Bombus impatiens
| Bombus impatiens | |
|---|---|
| Một cá thể đang hút mật | |
| Phân loại khoa học | |
| Giới: | Animalia |
| Ngành: | Arthropoda |
| Lớp: | Insecta |
| Bộ: | Hymenoptera |
| Họ: | Apidae |
| Chi: | Bombus |
| Phân chi: | Pyrobombus |
| Loài: | B. impatiens |
| Danh pháp hai phần | |
| Bombus impatiens Cresson, 1863[3] | |
| Phân bố của loài tại Hoa Kỳ | |
Bombus impatiens (tên tiếng Anh: Common eastern bumblebee, tạm dịch: Ong nghệ Đông phổ thông) là loài ong nghệ thuộc họ Ong mật xuất hiện thường xuyên ở các bang phía đông Bắc Mỹ, vùng rừng ôn đới ở phía đông Hoa Kỳ, nam Canada và phía đông Đại Bình nguyên Bắc Mỹ, được Cresson mô tả khoa học năm 1863.[4] Đây là chủng loài ong nghệ thường bắt gặp nhất trong khu vực. Nhờ khả năng thích ứng với nhiều môi trường khác nhau, chúng là loài thụ phấn tốt và được sử dụng phổ biến trong thương mại, đặc biệt trong ngành công nghiệp nhà kính. Tuy nhiên, việc xuất khẩu cho mục đích thương mại vô tình du nhập loài này vào tự nhiên và làm đe dọa tới môi trường sống của những loài ong bản địa, ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học. Loài ong này được coi là một trong những loài thụ phấn quan trọng bậc nhất ở Bắc Mỹ,[5] có đóng góp rất lớn vào nền kinh tế nông nghiệp của nhiều khu vực miền đông Hoa Kỳ.
Phân loại
[sửa | sửa mã nguồn]Danh pháp hai phần bao gồm tên chi Bombus (phần đầu trong tên khoa học),[6][7] chi duy nhất của tông Bombini[7] và tên cụ thể (phần sau trong tên khoa học) impatiens có thể đến từ những loài hoa trong chi Impatiens, một trong số những nguồn thức ăn của chúng.[8][a] Loài B. impatiens được phân loại vào phân chi Pyrobombus, một trong 49 phân chi của chi Bombus.[7]
Hầu hết các loài trong chi Bombus bao gồm B. impatiens được đặc trưng bởi tập tính xã hội cấp cao.[6] Vì thuộc vào bộ Cánh màng (Hymenoptera) và họ Ong mật (Apidae),[7][6][9] chúng cũng thừa hưởng đặc tính chọn lọc theo dòng dõi và hệ thống phân biệt giới tính dựa trên nhiễm sắc thể (haplodiploidy), cũng như sở hữu hình thái gần gũi với chi anh em của mình là chi Ong mật.[10][11]
Mô tả nhận diện
[sửa | sửa mã nguồn]So sánh ong chúa, ong thợ và ong đực
[sửa | sửa mã nguồn]Ngoại hình của loài B. impatiens gần giống với những loài B.vagans, B.bimaculatus, B.perplexus và B.sandersoni.[12] Giống như những loài khác trong chi Ong nghệ, B. impatiens cũng được phủ bởi một lớp lông ở bên ngoài.[13] Về đặc điểm nhận diện riêng, chúng có phần đầu cỡ vừa cùng bộ lông ngắn và đều ở trên đỉnh đầu,[12] phần má có chiều rộng tương đương với đầu và phần thân thuôn dài hình chữ nhật.[14] Một con ong chúa to cỡ 17-23mm, to hơn so với nhũng con ong thợ (8.5-16mm) và những con ong đực (12-18mm).[12][15] Khác biệt về kích cỡ của chúng có thể được nhận ra qua sự khác biệt của khối lượng ấu trùng trong lần thay lông thứ hai.[16] Thêm vào đó, những con ong đực có màu sắc hơi khác biệt so với ong chúa và ong thợ. Trong khi ong chúa và ong thợ có toàn thân đều màu đen trừ phần đốt bụng (T1) màu vàng chanh và phủ lông ở phần lồng ngực,[17] ong đực có đầu và mặt tương đối nhạt và sáng hơn, nhìn giống như một bộ râu.[18][17] Có trường hợp ghi nhận cá thể ong thợ có phần đốt bụng (T2 & T3) kiểu màu sáng thay vì hoàn toàn đen.[19]
Đặc điểm tổ ong
[sửa | sửa mã nguồn]
Tổ ong của loài B. impatiens được xây dưới lòng đất, cách khoảng từ 1–3 ft (30–91 cm) so với mặt đất. Chỗ mà ong chúa chọn làm tổ ong thường là những tổ bị bỏ hoang của những loài gặm nhấm hoặc những chỗ ẩn khuất dưới những chùm cỏ.[15][20] Chúng ra vào tổ thông qua những đường hầm dài từ 18 in (46 cm) đến 9 ft (2,7 m).[21] Khác với tổ của ong mật hay ong tò vò giấy, tổ của loài B. impatiens có những công trình không có trật tự, quy luật rõ ràng. Ong chúa đẻ trứng khắp nơi trong tổ thay vì có một khu vực đẻ trứng cụ thể quanh chỗ phân phối ong thợ. Tỉ lệ ấu trùng và ong thợ xuất hiện thường tập trung ở trung tâm của tổ. Điều này thường dẫn đến những ấu trùng và con non ở đáy tổ hay rìa tổ ít được chăm sóc và nuôi dưỡng hơn những cá thể ấu trùng nằm ở trung tâm của tổ, thể hiện qua việc chúng được cho ăn ít hơn và kích cỡ ấu trùng giảm xuống theo trình tự từ trung tâm hướng dần ra ngoài rìa.[22] Trong tổ có sự độc đáo trong việc phân công lao động và tổ chức sinh hoạt khi 11-13% số ong thợ duy trì trong những vùng không gian nhỏ quen thuộc với chúng và toàn bộ ong thợ sẽ giữ khoảng cách cụ thể với trung tâm của tổ. Những con ong nhỏ hơn có xu hướng tạo những vùng làm việc nhỏ hơn và gần trung tâm của tổ hơn. Những cá thể đảm nhiệm việc nuôi ấu trùng trong tổ được tìm thấy ở trung tâm, trong khi đó những con ong đi kiếm ăn thường được phát hiện ở ngoại vi của tổ lúc nó không thực hiện kiếm ăn.[23]
Khu vực phân bố và môi trường sống
[sửa | sửa mã nguồn]
B. impatiens được công nhận là một trong số các loài ong nghệ phổ biến nhất vùng đông bắc Hoa Kỳ với diện tích phân bố rộng lớn.[17] Nói chung, B. impatiens được tìm thấy ở phía đông khu vực rừng ôn đới của miền Đông Hoa Kỳ, miền Nam Canada, và phía đông Đại Bình nguyên Bắc Mỹ.[24] Cụ thể, chúng phân bố rộng khắp ở các nơi như Ontario,[17] các bang New England,[6] Georgia, Mississippi, Kentucky, Tennessee, Alabama, Maryland, Delaware, New Jersey, New York, Pennsylvania, South Carolina, North Carolina, Virginia, West Virginia, phía nam Florida,[9] phía tây Michigan, Illinois, Minnesota,[17] Kansas, Missouri, Iowa, Wyoming,[25] Louisiana[15] và Wisconsin.[18][24] Tuy nhiên, vì việc sử dụng mang tính thương mại trong ngành công nghiệp nhà kính đang tăng lên, chúng dần phân bố và xuất hiện rộng rãi hơn ở những nơi không thuộc môi trường sống bản địa.[26][27] B. impatiens được công nhận là một trong số các loài ong nghệ phổ biến nhất vùng đông bắc Hoa Kỳ với diện tích phân bố rộng lớn.[17]
Môi trường sinh sống của loài rất đa dạng, thường có thể bắt gặp loài ong này trong các khu rừng, đồng cỏ và ở đầm lầy.[9] Với khả năng thích ứng tốt, chúng có thể sống ở vùng nông thôn (như ở các cánh đồng, ruộng đất ở các nông trại), vùng ngoại ô và cả ở những thành phố đô thị.[28]
Đặc điểm bầy đàn
[sửa | sửa mã nguồn]Giống như các loài ong nghệ khác, B. impatiens xây dựng tổ theo kiểu annual colony.[29][b] Để tạo một tập đoàn, ong chúa thường rời khỏi chỗ trú ẩn từ mùa xuân khoảng giữa tháng 4 và lập tổ vào tháng 5, đánh dấu sự hình thành của một số ong thợ đầu tiên. Số lượng con ong thợ sẽ dần tăng lên đến khi tổ đạt đến lượng tối đa thì tổ bắt đầu chuyển sang nuôi một con ong chúa mới cùng với việc sinh ong đực. Sau một thời gian, đến cuối hè và đầu thu, những con ong chúa mới và ong đực cũng sẽ xuất hiện.[30] vào khoảng giữa tháng 10, ong chúa mới sẽ giao phối với một con đực rồi bay đi tìm một nơi trú ẩn mới, để lại những con còn lại chết đi khi mùa đông bắt đầu.[6] Nếu nói đến độ lớn của một đàn ong, bầy ong thuộc loài B. impatiens có thể chứa đến 450-500 cá thể dù con số thông thường là từ 200-400 cá thể,[31][32][33] một vài bầy đàn còn có thể lên tới 800 cá thể và hầu hết là ong thợ.[31]
Tập tính loài
[sửa | sửa mã nguồn]Phân chia lao động
[sửa | sửa mã nguồn]Trong tổ, những con ong thợ không tự phân bố một cách ngẫu nhiên mà phân chia cụ thể những nơi làm việc ngo tổ ong một khoảng cách nhất định.[23] Kích thước của các cá thể khá đa dạng, với sự khác biệt lớn nhất lên tới 10 lần, những con ong kích thước to hơn đảm nhiệm việc canh gác và làm kiếm ăn ở rìa ngoài tổ, trong khi đó những con ong nhỏ hơn được tìm thấy trong phần trung tâm của tổ chịu trách nhiệm cho việc nuôi dưỡng những ấu trùng.[34][35] Các ong thợ giữ công việc bản thân đảm nhiệm trong suốt quãng đời làm việc.[23] Tuy nhiên, hiện không có sự nhất quán rõ ràng khi thực chất có trường hợp ong thợ loài B. impatiens lại có thể đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau trong quãng đời của mình, và công việc phân chia trên đôi lúc cũng không phụ thuộc vào kích cỡ và tuổi tác.[23][35]
Sự ức chế sinh sản
[sửa | sửa mã nguồn]Ong thợ B. impatiens có khả năng đẻ trứng, một số còn được ghi nhận đã có tế bào trứng trưởng thành trong buồng trứng nhưng bị ức chế về mặt sinh sản khi đã có ong chúa trong bầy, dù đã giao phối hay chưa.[36] Để đảm bảo rằng chỉ có ong chúa là con ong đẻ trứng duy nhất, ong chúa sẽ tiến hành "giai đoạn tiền tranh đua" (pre-competition phase), lúc đó ong chúa bắt đầu sản xuất pheromone làm triệt tiêu khả năng sinh sản của ong thợ, sau đó chuyển sang thực hiện các nhiệm vụ trong bầy, như việc nuôi những con non và đẻ trứng.[37] Giai đoạn này sẽ kéo dài khoảng 4-5 tuần kể từ khi những con ong thợ đầu tiên xuất hiện. Cùng với sự phát triển của đàn, ong chúa dần mất đi vị thế độc quyền trong việc sinh sản, đánh dấu sự chuyển biến sang "giai đoạn tranh đua" (competition phase).[38] Lúc này ong thợ đã có thể đẻ trứng chưa được thụ tinh, và chúng sẽ tranh giành những con đực với nhau. Tranh chấp có thể là giữa ong thợ với ong chúa hoặc là giữa các ong thợ với nhau.[37]
Giao phối
[sửa | sửa mã nguồn]
Khi gần đến cuối vòng đời của một tổ ong, những con ong cái được định sẽ trở thành ong chúa trong tương lai bắt đầu tìm bạn tình để giao phối.[6] Những con ong đực có thể giao phối nhiều lần và sẽ chết không lâu sau đó, tuy vậy ong cái (ong chúa tương lai) chỉ giao phối một lần rồi tiến vào trạng thái đình dục vào mùa đông.[39] Giống với các loài họ hàng, quá trình giao phối thường kéo dài từ 10 tới 80 phút, với 2 phút đầu là quá trình chuyển giao tinh trùng và sau đó thì ong đực sẽ bơm vào một hợp chất kết dính vào lỗ sinh dục của ong cái, hợp chất theo thời gian sẽ đông lại và nó sẽ đóng một phần hoặc toàn phần lỗ sinh dục này. Điều này nhằm giúp dòng tinh trùng không bị chảy ngược ra ngoài.[40]
Khả năng thích ứng với môi trường
[sửa | sửa mã nguồn]Những ong chúa B. impatiens đang trong trạng thái đình dục được ghi nhận có thể sinh tồn trong thời gian dài ở dưới nước bằng cách điều chỉnh khả năng sinh lý để thích ứng như hô hấp dưới nước, hô hấp kị khí và giảm thiểu chuyển hóa.[41] Cơ chế này giúp cho ong chúa duy trì ở trạng thái dưới nước lên đến một tuần mà không bị ngạt thở vì môi trường thiếu oxy hoặc chết đuối. Các nhà khoa học tin rằng đây là cách để B.impatiens có thể sống sót trong môi trường lũ lụt hay trong trạng thái trú đông trước khi tìm được một tổ mới.[41]
Đặc điểm kiếm ăn
[sửa | sửa mã nguồn]Traplining
[sửa | sửa mã nguồn]
Những con ong đảm nhận nhiệm vụ kiếm ăn trong các bầy ong của loài B. impatiens thường thực hiện một chiến thuật gọi là traplining,[43] khi mà chúng thường xuyên thăm các nguồn thức ăn của chúng theo một trình tự có tính hệ thống và có tính lặp lại. Ban đầu, những con ong sẽ kiếm ăn vài lần trong môi trường mới, sau đó sử dụng kinh nghiệm để thiết lập trí nhớ dài hạn, rồi chúng phải mất thêm một thời gian để tự điều chỉnh thành một đường bay cố định.[42] Điểm mạnh chung của chiến thuật này là để giảm quãng đường phải di chuyển và giảm tỉ lệ quay lại hoa cũ, ngoài ra còn dễ được truyền lại cho các con ong khác, giúp cho bầy ong đó dễ kiếm nguồn thức ăn khi cần. Một thí nghiệm cho thấy rằng nếu vị trí của hoa bị xáo trộn sau mỗi lần bay sẽ khiến ong không hoàn toàn thiết lập trí nhớ dài hạn, ảnh hưởng tới hiệu quả tổng thể (như việc tăng thêm thời gian tìm kiếm thức ăn, tăng số lần quay trở lại các bông hoa đã cạn mật).[42]
Cách giao tiếp khi kiếm ăn
[sửa | sửa mã nguồn]
Giống như những loài ong khác, B. impatiens cũng sử dụng giao tiếp để tối đa hóa hiệu quả kiếm ăn. Khác với các loài ong mật như A. mellifera sử dụng một điệu nhảy gọi là waggle dance,[c] B. impatiens cũng như các loài ong nghệ khác thường đập cánh, bay đi bay lại một cách hào hứng hay kích thích và tiết ra một số pheromone kích thích sự tập trung nhằm kêu gọi đồng loại rời tổ và đi tìm kiếm thức ăn.[45]
Mối quan hệ với hệ sinh thái
[sửa | sửa mã nguồn]Nguồn thức ăn
[sửa | sửa mã nguồn]Thức ăn của B. impatiens khá đa dạng gồm hoa thuộc các chi và loài như Aster, Cirsium, Eupatorium, Gelsemium, Malus, Pontederia, Rubus, Solidago, Trifolium, Crocus, Pieris, Rhododendron, Berberis, Kalmia latifolia, hoa hồng, Vicia americana, Lythrum, Cephalanthus occidentalis, Bidens, Arctium, và Impatiens từ tên khoa học của loài ong.[6][4] Các cá thể ong thường ăn nguyên liệu như phấn hay mật từ hoa, nhưng những con ong trong đàn cũng có thể ăn hỗn hợp từ các nguyên liệu trên kết hợp lại do chúng có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn (được gọi là bee bread).[46] Để tạo ra hỗn hợp đó, đầu tiên chúng sẽ lấy phấn hoa, trộn chúng với mật hoa và với enzyme trong nước dãi của chúng, rồi sau đó chúng gắn vào chân của mình và mang về tổ.[46] Cách sử dụng phổ biến của loại thức ăn này là dùng để nuôi những ấu trùng trong tổ.[22] Một số lượng dư ra còn có thể tích trữ cho những khoảng thời gian ngắn như những lúc thời tiết lạnh quá mức hay có trận mưa lớn khi nguồn thức ăn ít đi.[46] Chúng thường kiếm ăn trên các loài thực vật có tỉ lệ protein: lipid cao, thường là tỉ lệ 4,6:1 (trong tự nhiên) cho đến tỉ lệ 5:1 và 10:1 (nếu phấn hoa có sự biến đổi dinh dưỡng).[47]
Mối quan hệ kí sinh
[sửa | sửa mã nguồn]Ong nghệ Đông phổ thông là vật chủ của rất nhiều các loại kí sinh trùng và động vật kí sinh,[15] với loài tiêu biểu nhất có thể kể đến như Bombus citrinus.[9][15] B. impatiens là vật chủ kí sinh của loài B. citrinus, một loài ong kí sinh sống chung vùng phân bố và môi trường sống với chúng. Nếu không bị phát hiện hoặc tấn công, ong cái B. citrinus có thể kí sinh vào trong tổ của B. impatiens và rồi giết chết ong chúa, các ấu trùng và trứng của vật chủ, sau đó thiết lập sự cai trị mới của bản thân đối với tổ và các ong thợ của loài B. impatiens, như đẻ trứng của mình và bắt các ong thợ của vật chủ trước chăm sóc.[15] Ngoài ra, tổ của chúng cũng có thể là vật chủ của nhiều côn trùng kí sinh khác, một số sinh vật nhân sơ, ve,[48] nấm và các vi sinh vật khác.[15]
Một bài nghiên cứu năm 2023 đã có kết luận cho thấy phấn hoa hướng dương lại có hiệu quả đáng kể trong việc giảm sự lây nhiễm một loài kí sinh trùng đường ruột phổ biến (Crithidia bombi) trên cá thể B. impatiens.[49] Kí sinh trùng này ảnh hưởng tới sự sinh tồn vào giai đoạn ngủ đông của ong chúa và khả năng kiếm ăn của ong trên các loài hoa, cũng như là bào mòn dinh dưỡng của ong chúa khi chúng muốn tạo đàn.[49][50] Lý do được suy đoán là do phấn hoa hướng dương có lớp vỏ ngoài gai góc và chứa một loạt các chất hóa học.[49]
Tầm quan trọng đối với loài người
[sửa | sửa mã nguồn]Trong thời đại đô thị hóa, số lượng cá thể của loài ong nói chung đang sụt giảm nghiêm trọng và đã trở thành một bài toán nan giải đối với nhiều nước trên thế giới nói chung và nền nông nghiệp, sinh thái của châu Mỹ nói riêng, dù ở một số nước tại châu Á vẫn còn ghi nhận tăng trưởng đều về mặt số lượng của các cá thể loài ong, như tại khu vực Đông Nam Á ghi nhận sự tăng trưởng về lượng đàn ong trong giai đoạn 1990-2023 lên đến khoảng 205,6%.[51][52] B. impatiens được coi là một trong những loài ong thụ phấn quan trọng bậc nhất ở Bắc Mỹ, có đóng góp vô cùng lớn trong nông nghiệp của nhiều trang trại và vườn trái cây miền đông Hoa Kỳ cùng với nhiều loài ong hoang dã khác, như ảnh hưởng và hiệu quả của chúng trong sản lượng việt quất xanh ở Maine.[53] B. impatiens và cả các loài khác của chi Bombus được coi là một đối tượng then chốt cho việc duy trì đa dạng sinh học và tăng năng suất cây trồng nhờ vào kĩ thuật thụ phấn độc đáo mà các loài ong mật không thể tái tạo (như kĩ thuật buzz-pollination). Chúng cũng sở hữu tính thích ứng cao khi có thể làm việc trong môi trường nhiệt độ thấp và tối tăm, tạo điều kiện thụ phấn cho các cây cà chua, việt quất và hồ tiêu.[54] Thậm chí, chúng có khả năng chịu gió mạnh và vẫn có thể kiếm ăn trong thời tiết mưa nhỏ.[31]
B. impatiens hiện được đánh giá là loài ong ưu việt cho việc thụ phấn thương mại tại châu Mỹ và sự chú ý tới loài này vẫn đang tiếp tục tăng cao.[31] B. impatiens là một loài lý tưởng cho lĩnh vực nông nghiệp nhà kính vì độ hiệu quả của chúng đối với các loài cây trồng chủ lực của lĩnh vực, biến chúng thành một biện pháp thay thế của các doanh nghiệp cho A. mellifera hay B. terrestris, đặc biệt là ở Mỹ và Canada khi hai nước có lệnh cấm nhập khẩu loài B. terrestris.[55] Việc thúc đẩy sử dụng B. impatiens trong nông nghiệp đã góp phần khiến chúng lan rộng phạm vi sinh sống.[27][31] Có thể lấy ví dụ như ở một số nơi như California và México đã có áp dụng loài ong nghệ này cho việc thụ phấn mang tính chất thương mại, dù trước đó chúng không phải loài bản địa tại đây.[27][9] Hiện tại, loài này đã được ghi nhận sử dụng để thụ phấn những cây ăn quả như việt quất xanh, bí ngô, cà chua, mâm xôi đỏ và nhiều loài cây có thể trồng trong nhà kính khác.[31]
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Trong nguồn ghi chung chi Bombus (Bombus spp.) là loài thụ phấn chính của loài hoa trong chi Impatiens.
- ↑ Các loài ong và loài vò vẽ sống theo bầy đàn xây tổ theo kiểu annual colony, tức là tổ ong chỉ sống trong vòng một năm. Khi mùa thu đến, các ong chúa mới tìm bạn đời và giao phối. Sau khi giao phối, con ong chúa đi tìm một nơi ở mới, còn tổ cũ của nó sẽ chết đi khi mùa đông đến.[30]
- ↑ "Waggle dance" là một hệ thống giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ thể, được các loài ong (chủ yếu là ong mật) dùng để thông báo cho đồng loại về vị trí của nguồn thức ăn hoặc nơi làm tổ mới. Khi thực hiện, ong thợ vừa bay theo hình số 8 vừa rung toàn thân, trong đó có đoạn bay thẳng ở giữa biểu thị phương hướng của mục tiêu truyền tải. Khoảng cách đến mục tiêu thể hiện qua thời gian con ong lắc bụng trên đoạn thẳng (thời gian càng dài, khoảng cách càng xa). Ngoài ra, cường độ rung còn truyền đi dữ liệu về chất lượng và độ dồi dào của thức ăn, giúp đàn ong tối ưu hiệu quả thu hoạch.[44]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Hatfield, R.; Jepsen, S.; Thorp, R.; Richardson, L.; Colla, S. (2014). "Bombus impatiens". Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2014 e.T44937797A69003246. doi:10.2305/IUCN.UK.2014-3.RLTS.T44937797A69003246.en. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2021.
- ↑ NatureServe (ngày 30 tháng 10 năm 2020). "Bombus impatiens Common Eastern Bumble Bee". NatureServe Explorer (bằng tiếng Anh). NatureServe. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2025.
- ↑ Bombus impatiens (TSN 714812) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
- 1 2 Paul H., Williams; Robbin, Thorp; Leif, Richardson; Sheila, Colla (ngày 23 tháng 3 năm 2014). Bumble Bees of North America: An Identification Guide (ebook) (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. tr. 59–61. ISBN 9781400851188.
- ↑ Bernardo, Sachman-Ruiz; Verónica, Narváez-Padilla; Enrique, Reynaud (2015). "Commercial Bombus impatiens as reservoirs of emerging infectious diseases in central México". Biological Invasions (bằng tiếng Anh). Quyển 17 số 7. tr. Introduction. doi:10.1007/s10530-015-0859-6.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 Colla, Sheila; Richardson, Leif; Williams, Paul (2011). Bumble Bees of the Eastern United States (PDF) (bằng tiếng Anh). USDA Forest Service và Pollinator Partnership. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 4 "Taxonomy Browser (Bombus impatiens)". NCBI Taxonomy Browser (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Xue, Yuxi; Su, Qitao; Zhang, Yuxin; Zhang, Shujian; Li, Heng; Liao, Leiqin; Zeng, Jia; Huang, Weiyuan; Xiao, Yian (ngày 23 tháng 4 năm 2025). "Reproductive and Pollination Characteristics of Three Understory Impatiens Species". Horticulturae (bằng tiếng Anh). Quyển 11 số 5. tr. Abstract. doi:10.3390/horticulturae11050453. ISSN 2311-7524.
- 1 2 3 4 5 Deena, Hauze. "Bombus impatiens | INFORMATION | Animal Diversity Web". Animal Diversity Web (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Lopez-Vaamonde, Carlos; Koning, J. Will; Jordan, William C.; Bourke, Andrew F. G. (ngày 1 tháng 9 năm 2003). "No evidence that reproductive bumblebee workers reduce the production of new queens". Animal Behaviour (bằng tiếng Anh). Quyển 66 số 3. tr. 577–584. doi:10.1006/anbe.2003.2205. ISSN 0003-3472.
- ↑ Gardner, Andy; Ross, Laura (tháng 3 năm 2013). "Haplodiploidy, Sex-Ratio Adjustment, and Eusociality". The American Naturalist (bằng tiếng Anh). Quyển 181 số 3. tr. E60 – E67. doi:10.1086/669147. ISSN 0003-0147.
- 1 2 3 Williams, Paul; Thorp, Robbin; Richardson, Leif; Colla, Sheila (ngày 23 tháng 3 năm 2014). Bumble Bees of North America: An Identification Guide (bằng tiếng Anh). Princeton University Press. ISBN 978-1-4008-5118-8.
- ↑ Hines, Heather M.; Kilpatrick, Shelby Kerrin; Mikó, István; Snellings, Daniel; López-Uribe, Margarita M.; Tian, Li (ngày 21 tháng 12 năm 2022). "The diversity, evolution, and development of setal morphologies in bumble bees (Hymenoptera: Apidae: Bombus spp.)". PeerJ (bằng tiếng Anh). Quyển 10. tr. e14555. doi:10.7717/peerj.14555. ISSN 2167-8359.
- ↑ Invasive Species Council (tháng 5 năm 2020). "Invasion Watch: Common eastern bumblebee (Bombus impatiens)" (PDF). Invasive Species Council (Australia). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 7 "Bombus impatiens, Common Eastern Bumblebee (Hymenoptera: Apidae)". LSU AgCenter (bằng tiếng Anh). ngày 29 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Cnaani, J.; Schmid-Hempel, R.; Schmidt, J.O. (ngày 1 tháng 5 năm 2002). "Colony development, larval development and worker reproduction in Bombus impatiens Cresson". Insectes Sociaux (bằng tiếng Anh). Quyển 49 số 2. tr. 164–170. doi:10.1007/s00040-002-8297-8. ISSN 1420-9098.
- 1 2 3 4 5 6 "Bombus impatiens". Minnesota Native Bees (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 "Common Eastern Bumble Bee". Bumble Bees of Wisconsin (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Zarillo, Tracey (2014). "The Connecticut Bumble Bee Guide" (PDF) (bằng tiếng Anh). The Connecticut Agricultural Experiment Station (CAES). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Bumble Bee Nest Quest - Bumble bee nesting 101". University of Minnesota Extension (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Francesca Ferguson; Anna Cressman (tháng 6 năm 2021). "Bug of the Month: Common Eastern Bumble Bee (Bombus impatiens)" (PDF) (bằng tiếng Anh). PennState & Trung tâm Nghiên cứu các Loài thụ phấn. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
- 1 2 Couvillon, Margaret J.; Dornhaus, Anna (ngày 7 tháng 7 năm 2009). "Location, location, location: larvae position inside the nest is correlated with adult body size in worker bumble-bees (Bombus impatiens)". Proceedings. Biological Sciences (bằng tiếng Anh). Quyển 276 số 1666. tr. 2411–2418. doi:10.1098/rspb.2009.0172. ISSN 0962-8452. PMC 2690463. PMID 19364744.
- 1 2 3 4 Jandt, Jennifer M.; Dornhaus, Anna (ngày 1 tháng 3 năm 2009). "Spatial organization and division of labour in the bumblebee Bombus impatiens". Animal Behaviour (bằng tiếng Anh). Quyển 77 số 3. tr. 641–651. doi:10.1016/j.anbehav.2008.11.019. ISSN 0003-3472.
- 1 2 "Occurrence search - Canadensys". Canadensys (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "NatureServe Explorer 2.0". NatureServe Explorer (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Could an introduced bumble bee threaten Washington's native bumbles?". Washington State Department of Agriculture (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2026.
- 1 2 3 "ITIS - Report: Bombus impatiens". ITIS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Samuel, Molly (ngày 11 tháng 10 năm 2022). "It's not all bad for urban bees: Georgia study finds more than 100 species in yards". WABE (bằng tiếng Anh). PBS; APS. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Vaudo, Anthony D.; Farrell, Liam M.; Patch, Harland M.; Grozinger, Christina M.; Tooker, John F. (tháng 6 năm 2018). "Consistent pollen nutritional intake drives bumble bee (Bombus impatiens) colony growth and reproduction across different habitats". Ecology and Evolution. Quyển 8 số 11. tr. Abstract. doi:10.1002/ece3.4115. ISSN 2045-7758. PMC 6010792. PMID 29938091.
- 1 2 Lee, Katie; Jesse, Laura; Hahn, Jeffrey; Liesch, Patrick. "Wasps and bees". University of Minnesota Extension (bằng tiếng Anh). Đại học Minnesota. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2026.
- 1 2 3 4 5 6 "Using Bumble Bees as Crop Pollinators". SARE (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Bombus impatiens". Beespotter (bằng tiếng Anh). University of Illinois. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Common Eastern Bumblebee | National Wildlife Federation". National Wildlife Federation (NWF) (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Couvillon, Margaret J.; Jandt, Jennifer M.; Duong, Nhi; Dornhaus, Anna (tháng 8 năm 2010). "Ontogeny of worker body size distribution in bumble bee (Bombus impatiens) colonies". Ecological Entomology (bằng tiếng Anh). Quyển 35 số 4. tr. Introduction, Result–Discussion. doi:10.1111/j.1365-2311.2010.01198.x. ISSN 0307-6946. PMC 4444232. PMID 26023250.
- 1 2 Jandt, Jennifer M.; Huang, Eden; Dornhaus, Anna (ngày 1 tháng 10 năm 2009). "Weak specialization of workers inside a bumble bee (Bombus impatiens) nest". Behavioral Ecology and Sociobiology (bằng tiếng Anh). Quyển 63 số 12. doi:10.1007/s00265-009-0810-x. ISSN 1432-0762.
- ↑ Amsalem, Etya; Padilla, Mario; Schreiber, Paul M.; Altman, Naomi S.; Hefetz, Abraham; Grozinger, Christina M. (ngày 1 tháng 6 năm 2017). "Do Bumble Bee, Bombus impatiens, Queens Signal their Reproductive and Mating Status to their Workers?". Journal of Chemical Ecology (bằng tiếng Anh). Quyển 43 số 6. tr. Abstract. doi:10.1007/s10886-017-0858-4. ISSN 1573-1561.
- 1 2 Amsalem, Etya; Cressman, Anna (ngày 10 tháng 9 năm 2024). "The Bumble Bee Lifestyle". Pennstate Extension (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Amsalem, Etya; K. F. Santos, Priscila; Messner, Ella; Murray, Cameron (ngày 6 tháng 8 năm 2025). "Gyne production is regulated by the brood in a social bee (Bombus impatiens)". Royal Society Open Science (bằng tiếng Anh). Quyển 12 số 8. tr. Abstract–Introduction. doi:10.1098/rsos.241906.
- ↑ Spence, Sarah K.; Amsalem, Etya (ngày 27 tháng 10 năm 2025). "Male attraction to short-range multimodal gyne signals in the bumblebees Bombus impatiens". Discover Animals (bằng tiếng Anh). Quyển 2 số 1. tr. Introduction. doi:10.1007/s44338-025-00136-0. ISSN 3004-894X.
- ↑ Duvoisin, N.; Baer, B.; Schmid-Hempel, P. (tháng 10 năm 1999). "Sperm transfer and male competition in a bumblebee". Animal Behaviour (bằng tiếng Anh). Quyển 58 số 4. doi:10.1006/anbe.1999.1196. ISSN 0003-3472. PMID 10512647.
- 1 2 Darveau, Charles-A.; Rondeau, Sabrina; Rojas, Skyelar L. (ngày 11 tháng 3 năm 2026). "Diapausing bumble bee queens avoid drowning by using underwater respiration, anaerobic metabolism and profound metabolic depression". Proceedings of the Royal Society B: Biological Sciences. Quyển 293 số 2066. The Royal Society Publishing. tr. Abstract–Introduction, Discussion. doi:10.1098/rspb.2025.3141. ISSN 1471-2954. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2026.
- 1 2 3 Saleh, Nehal; Chittka, Lars (ngày 1 tháng 4 năm 2007). "Traplining in bumblebees (Bombus impatiens): a foraging strategy's ontogeny and the importance of spatial reference memory in short-range foraging". Oecologia (bằng tiếng Anh). Quyển 151 số 4. tr. 719–730. doi:10.1007/s00442-006-0607-9. ISSN 1432-1939.
- ↑ Minahan, Danny F.; Brunet, Johanne (ngày 5 tháng 10 năm 2018). "Strong Interspecific Differences in Foraging Activity Observed Between Honey Bees and Bumble Bees Using Miniaturized Radio Frequency Identification (RFID)". Frontiers in Ecology and Evolution (bằng tiếng Anh). Quyển 6. doi:10.3389/fevo.2018.00156. ISSN 2296-701X.
- ↑ Dong, Shihao; Lin, Tao; Nieh, James C.; Tan, Ken (2023). "Social signal learning of the waggle dance in honey bees". Science (bằng tiếng Anh). 379 (6636): 1015–1018. doi:10.1126/science.ade1702. PMID 36893231.
- ↑ Alves, Denise A.; George, Ebi A.; Kaur, Rajbir; Brockmann, Axel; Hrncir, Michael; Grüter, Christoph (ngày 13 tháng 6 năm 2023). "Diverse communication strategies in bees as a window into adaptations to an unpredictable world". Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (bằng tiếng Anh). Quyển 120 số 24. tr. e2219031120. doi:10.1073/pnas.2219031120. ISSN 1091-6490. PMC 10268221. PMID 37279263.
- 1 2 3 Bakour, Meryem; Laaroussi, Hassan; Ousaaid, Driss; El Ghouizi, Asmae; Es-Safi, Imane; Mechchate, Hamza; Lyoussi, Badiaa (ngày 5 tháng 2 năm 2022). "Bee Bread as a Promising Source of Bioactive Molecules and Functional Properties: An Up-To-Date Review". Antibiotics (Basel, Switzerland) (bằng tiếng Anh). Quyển 11 số 2. tr. 203. doi:10.3390/antibiotics11020203. ISSN 2079-6382. PMC 8868279. PMID 35203806.
- ↑ Vaudo, Anthony D.; Patch, Harland M.; Mortensen, David A.; Tooker, John F.; Grozinger, Christina M. (ngày 12 tháng 7 năm 2016). "Macronutrient ratios in pollen shape bumble bee (Bombus impatiens) foraging strategies and floral preferences". Proceedings of the National Academy of Sciences. Quyển 113 số 28. tr. E4035 – E4042. doi:10.1073/pnas.1606101113.
- ↑ Evans, Elaine C.; Strange, James P.; Sadd, Ben M.; Tripodi, Amber D.; Figueroa, Laura L.; Adams, Laurie Davies; Colla, Sheila R.; Duennes, Michelle A.; Lehmann, David M. (ngày 2 tháng 9 năm 2023). "Parasites, parasitoids, and hive products that are potentially deleterious to wild and commercially raised bumble bees (Bombus spp.) in North America". Journal of Pollination Ecology (bằng tiếng Anh). Quyển 33 số 3. tr. 37–53. doi:10.26786/1920-7603(2023)710. ISSN 1920-7603. PMC 11694831. PMID 39749144.
- 1 2 3 Figueroa, Laura L.; Fowler, Alison; Lopez, Stephanie; Amaral, Victoria E.; Koch, Hauke; Stevenson, Philip C.; Irwin, Rebecca E.; Adler, Lynn S. (tháng 6 năm 2023). "Sunflower spines and beyond: Mechanisms and breadth of pollen that reduce gut pathogen infection in the common eastern bumble bee". Functional Ecology (bằng tiếng Anh). Quyển 37 số 6. tr. 1757–1769. doi:10.1111/1365-2435.14320. ISSN 0269-8463.
- ↑ Schmid-Hempel, Paul; Aebi, Markus; Barribeau, Seth; Kitajima, Toshihiko; du Plessis, Louis; Schmid-Hempel, Regula; Zoller, Stefan (2018). "The genomes of Crithidia bombi and C. expoeki, common parasites of bumblebees". PloS One (bằng tiếng Anh). Quyển 13 số 1. tr. e0189738. doi:10.1371/journal.pone.0189738. ISSN 1932-6203. PMC 5755769. PMID 29304093.
- ↑ Watson, Kacey (ngày 16 tháng 1 năm 2025). "U.S. Beekeeping Survey reveals highest honey bee colony losses during 2024-2025". Auburn University College of Agriculture (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2026.
- ↑ "Bee colonies: worldwide population on the rise". Federal Statistical Office (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 1 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
- ↑ C. S. Stubbs; F. A. Drummond; D. E. Yarborough (2002). "302-Commercial Bumble Bee (Bombus impatiens) Management for Wild Blueberry Pollination - Cooperative Extension: Maine Wild Blueberries - University of Maine Cooperative Extension". Cooperative Extension: Maine Wild Blueberries (bằng tiếng Anh). Đại học Maine. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2026.
- ↑ Mei, Bie; Kai, Song; He, Dong; Wanru, Zhao; Hongze, Lin; Dongfang, Shi; Duo, Liu (tháng 1 năm 2025). "Advancing Sustainable Agriculture Through Bumblebee Pollination: Bibliometric Insights and Future Directions". Sustainability (bằng tiếng Anh). Quyển 17 số 5. tr. Abstract-Application of Bumblebees in Agriculture. doi:10.3390/su17052177. ISSN 2071-1050.
- ↑ Winter, Kimberly; Adams, Laurie; Thorp, Robbin; Inouye, David; Day, Liz; Ascher, John; Buchmann, Stephen (tháng 8 năm 2006). "Importation of Non-Native Bumble Bees into North America: Potential Consequences of Using Bombus terrestris and Other Non-Native Bumble Bees for Greenhouse Crop Pollination in Canada, Mexico, and the United States" (PDF). Pollinator. tr. Background. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2026.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]
Dữ liệu liên quan tới Bombus impatiens tại Wikispecies
Tư liệu liên quan tới Bombus impatiens tại Wikimedia Commons- Sadd, Ben M.; và đồng nghiệp (ngày 24 tháng 4 năm 2015). "The genomes of two key bumblebee species with primitive eusocial organization". Genome Biology. 16 (1): 76. doi:10.1186/s13059-015-0623-3. PMC 4414376. PMID 25908251.